Phong cách làm việc khoa học, khách quan và trung thực của Hồ Chí Minh – Tài liệu text

Phong cách làm việc khoa học, khách quan và trung thực của Hồ Chí Minh

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (274.97 KB, 7 trang )

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn

PHONG CÁCH LÀM VIỆC KHOA HỌC, KHÁCH QUAN
VÀ TRUNG THỰC CỦA HỒ CHÍ MINH
Lê Đức Thọ1*
1
Khoa Cơ bản, Trường Cao đẳng Nghề Đà Nẵng
*
Tác giả liên hệ: [email protected]
Lịch sử bài báo
Ngày nhận: 18/12/2019; Ngày nhận chỉnh sửa: 24/2/2020; Ngày duyệt đăng: 23/4/2020
Tóm tắt
Trong quá trình hoạt động cách mạng đã hình thành ở Hồ Chí Minh phong cách làm việc khoa
học, khách quan, trung thực. Người luôn là tấm gương sáng về phương pháp, tác phong làm việc
khoa học, khách quan và trung thực. Do đó, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, Hồ Chí Minh
thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng, bồi dưỡng, rèn luyện phương pháp, phong cách làm
việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bài viết góp phần nhận thức rõ hơn phong cách làm việc khoa
học, khách quan và trung thực của Hồ Chí Minh và chỉ ra ý nghĩa của nó đối với cán bộ, đảng viên
trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cách mạng ở nước ta hiện nay.
Từ khóa: Phong cách Hồ Chí Minh, phong cách làm việc khoa học, phong cách làm việc khách
quan, phong cách làm việc trung thực.
———————————————————————————————————————-

HO CHI MINH’S WORKING STYLE,
SCIENTIFIC, OBJECTIVE AND HONEST
Le Duc Tho1*
1
Faculty of Fun Damentals, Da Nang Vocational College
*
Corresponding author: [email protected]
Article history

Received: 18/12/2019; Received in revised form: 24/2/2020; Accepted: 23/4/2020
Abstract
In the course of revolutionary activities, Ho Chi Minh formed an honest, objective, and scientific
working style. He has ever made a good example of such a working method. Therefore, to meet
the requirements in revolutionary tasks, Ho Chi Minh often attended to building, fostering and
training the working methods and styles among cadres and party members. The article contributes
to providing a better awareness of Ho Chi Minh’s honest, objective and scientific working style, and
identifies its significance to cadres and party members in the process of implementing revolutionary
tasks in our country today.
Keywords: Ho Chi Minh style, honest working style, scientific working style, objective
working style.

92

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-98

1. Mở đầu
Phong cách Hồ Chí Minh là một hệ thống
chỉnh thể, gắn bó chặt chẽ với nhau, phát triển
theo logic đi từ suy nghĩ đến nói, viết và biểu
hiện qua phong cách làm việc, phong cách ứng
xử, tác phong sinh hoạt hàng ngày. Trong quá
trình hoạt động cách mạng đã hình thành ở Người
phong cách làm việc bao gồm nhiều nội dung,
trong đó có phong cách làm việc khoa học, khách
quan, trung thực. Phong cách làm việc của Hồ
Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong tồn
bộ di sản vơ giá mà Người để lại cho dân tộc ta.
Phong cách của Người không chỉ là bài học, là

chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người
cán bộ, đảng viên mà còn bồi dưỡng nhân cách
cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai
sau. Vì vậy, nghiên cứu, tìm hiểu phong cách
làm việc nói chung và phong cách làm việc khoa
học, khách quan, trung thực của Hồ Chí Minh
nói riêng nhằm học tập, vận dụng vào đổi mới
phong cách làm việc của người cán bộ, đảng viên
trong tình hình mới ln là vấn đề có ý nghĩa
quan trọng và cấp thiết.
2. Nội dung nghiên cứu
2.1. Nét đặc sắc trong phong cách làm
việc khoa học, khách quan và trung thực của
Hồ Chí Minh
Sinh thời, Hồ Chí Minh rất coi trọng phong
cách làm việc khoa học, khách quan, trung thực.
Người yêu cầu mỗi cán bộ, công chức khi giải
quyết một cơng việc gì đó phải tiến hành điều tra,
nghiên cứu để nắm việc, nắm người, nắm tình
hình cụ thể. Bác thường xun nhắc nhở cán bộ,
cơng chức rằng “óc phải nghĩ, mắt phải trơng,
tai phải nghe, miệng phải nói, chân phải đi, tay
phải làm” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 233-234)
để điều tra, nghiên cứu thật kỹ, thu thập đầy đủ,
chính xác và nắm chắc tình hình thực tế. Phong
cách làm việc của Hồ Chí Minh là lề lối, cung
cách, cách thức làm việc của người lãnh đạo mà
đối tượng của sự lãnh đạo đó là cấp dưới, là quần
chúng nhân dân. Cách làm việc này bắt nguồn từ
sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm về mối quan hệ

biện chứng giữa cá nhân lãnh tụ và quần chúng

nhân dân của chủ nghĩa Mác – Lênin và từ phẩm
chất đạo đức cách mạng trọn đời vì dân của Hồ
Chí Minh.
2.1.1. Phong cách làm việc khoa học của
Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh u cầu, làm việc gì cũng phải
có chương trình, kế hoạch: Hồ Chí Minh làm
việc gì cũng có chương trình, kế hoạch, từ lớn
đến nhỏ, từ dài hạn, trung hạn đến ngắn hạn, từ
tháng, tuần đến ngày, giờ, giờ nào việc nấy. Vì
làm việc có kế hoạch, dù bận trăm cơng nghìn
việc của Đảng và Nhà nước, Người lúc nào cũng
ung dung, tự tại, vẫn có thời gian học tập, đọc
sách, xem văn nghệ, đi xuống địa phương, đi
thăm danh lam, thắng cảnh. Từ thực tế và kinh
nghiệm của mình, Người dạy: trong việc đặt kế
hoạch không nên tham lam, phải thiết thự, vừa
sức, từ thấp đến cao, “chớ làm kế hoạch đẹp mặt,
to tát, kể hàng triệu nhưng không thực hiện được”
(Đặng Xuân Kỳ, 1997, tr. 81).
Một trong những nét nổi bật trong tác phong
làm việc khoa học của Hồ Chí Minh đó là tác
phong đúng giờ, tiết kiệm thời gian tối đa và
phân bổ thời gian để giải quyết công việc một
cách hợp lý, khoa học, tôn trọng công việc và tôn
trọng con người. Để có tác phong làm việc khoa
học, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Gặp mỗi vấn đề,
ta phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Xử trí

như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ
lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều,
chớ gặp sao làm vậy” (Hồ Chí Minh, 2011, tập
4, tr. 239) và “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng,
cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn” (Hồ Chí
Minh, 2011, tập 4, tr. 257). Khi ra các quyết định
phải có thơng tin đầy đủ và bảo đảm có phương
án thực thi hiệu quả, khơng chủ quan duy ý chí,
phải xây dựng thói quen tơn trọng thực tế khách
quan, khơng bóp méo sự thật, làm việc với tầm
nhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báo khoa học về
tình hình có liên quan để tránh bị động bất ngờ và
tránh xa vào cơng việc mang tính sự vụ thiển cận.
Trong làm việc, Người chỉ rõ cần có tầm
nhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báo khoa học
về tình hình có liên quan để tránh bị động bất
93

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn

ngờ, tránh xa vào cơng việc mang tính sự vụ
thiển cận. Người đã phê phán gay gắt những
cán bộ mắc “bệnh cận thị”… Hồ Chí Minh rất
khơng bằng lịng với thói quen chậm chạp, tùy
tiện, không đúng giờ của nhiều cán bộ, coi đó là
thái độ khơng tơn trọng thời gian của người khác.
Người dặn: Trước khi thực thi công vụ, bất kể
việc gì, từ lớn đến nhỏ đều cần xác định rõ mục
đích, nội dung, chương trình, kế hoạch. Người

địi hỏi tất cả cán bộ, công chức trong bộ máy
Đảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cơ
sở phải xây dựng kế hoạch làm việc trong từng
giờ, ngày, tuần, tháng, năm một cách cụ thể, thiết
thực, vừa sức; nội dung một, kế hoạch mười, biện
pháp phải hai mươi. Theo Người, làm việc khoa
học là phải giờ nào việc nấy, chấp hành đúng giờ
giấc, biết tôn trọng thời giờ của người khác, tránh
lối làm việc tùy tiện, bạ đâu hay đó. Người kịch
liệt phê phán lối làm việc “bàn giấy” trong “bốn
bức tường”, “chỉ tay năm ngón”. Người khuyến
khích cán bộ công chức sâu sát cơ sở, kiểm tra
đôn đốc, thường xuyên rút kinh nghiệm, biết tổng
kết thực tiễn. Người căn dặn, tuyệt nhiên không
một ai được che đậy sai lầm, bưng bít sự thật,
né tránh những sự việc tiêu cực, mà phải có thái
độ cầu thị, mạnh dạn dám thừa nhận, cơng khai
những lỗi lầm và kiên quyết tìm cách khắc phục,
sửa chữa để tiến bộ.
Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí
Minh cịn được biểu hiện rõ ở chỗ khi làm xong
một công việc, dù thành công hay thất bại đều
có tổng kết rút kinh nghiệm để tiến hành những
công việc khác tốt hơn. Người lãnh đạo phải biết
sử dụng bộ máy, những người cộng sự, những
cơ quan giúp việc một cách khoa học, hiệu quả
và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện của cấp
dưới và quần chúng…
Hồ Chí Minh u cầu, làm việc gì cũng
phải điều tra, nghiên cứu, thu thập thông tin,

số liệu để nắm chắc thực chất tình hình. Phong
cách làm việc của Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ
phải nắm vững tình hình thực tiễn. Có nắm vững
thực tiễn thì mới định ra đường lối, chính sách
đúng đắn. Người nói: “Đảng có hiểu rõ tình hình
94

thì đặt chính sách mới đúng” (Đặng Xn Kỳ,
1997, tr. 37). Về phần mình để nắm tình hình,
Người khơng chỉ dựa vào bộ máy giúp việc, mà
còn trực tiếp đi xuống cơ sở. Cách đi của Người
là không báo trước, xem xét từ ngoài vào trong,
từ sau ra trước, từ nơi ăn, chốn ở rồi mới ra chỗ
làm việc hội trường. Người muốn khơng để ai
có thể nói dối mình. Người lên án mọi thói che
đậy, bưng bít sự thật, cho đó là dối trá với dân,
“dối trá với Đảng, có tội với Đảng” (Đặng Xuân
Kỳ, 1997, tr. 297).
Người luôn tôn trọng bộ máy giúp việc,
thường xuyên quan tâm đọc, suy nghĩ kỹ những
báo cáo của địa phương và của các Bộ, ban, ngành
Trung ương. Nhưng để kiểm tra mức độ chính xác
các thơng tin đó, đồng thời thu thập thêm những
thông tin mới, Người đã chủ động về với các địa
phương, cơ sở và nhân dân. Người có nghệ thuật
“vi hành” mà không nơi nào, không một ai có thể
nói dối được. Những thơng tin từ các chuyến đi
thực tế đã giúp Người cùng Trung ương đưa ra
những quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân. Người
quý trọng thời gian và rất nghiêm khắc với việc

chấp hành giờ giấc làm việc. Dù nắng mưa, thậm
chí bão lụt, đã hẹn, Người tìm mọi cách để đến
đúng giờ. Cán bộ, chiến sĩ đến trễ giờ, Người
phê bình thẳng thắn, nghiêm túc. Quan niệm
của Người là “dối trá với Đảng” là “có tội với
Đảng”, và “một Đảng giấu giếm khuyết điểm của
mình là một Đảng hỏng” (Đặng Xuân Kỳ, 1997,
tr. 301). Các biểu hiện “làm cho xong chuyện,
làm ít xuýt ra nhiều, để có một báo cáo thật kêu”
ln là những hành vi xa lạ với phong cách Hồ
Chí Minh. Cuộc đời hoạt động cách mạng của
Người luôn là tấm gương mẫu mực trung thực
với chính mình, với Đảng, với dân. Trên cương
vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, những gì chưa
làm được cho dân, thậm chí những sai lầm gây
tổn thất cho cách mạng, Người dũng cảm, thành
khẩn nhận lỗi về mình, xin lỗi dân với thái độ
cầu thị và tìm mọi giải pháp khắc phục hậu quả
để yên lòng dân…
Hồ Chí Minh u cầu khi làm việc khơng
được né tránh những sự việc tiêu cực, nhạy cảm.

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-98

Hồ Chí Minh khơng hề né tránh những sự việc
tiêu cực, thường được đội danh là “nhạy cảm”,
càng không cho phép lợi dụng hai chữ ‘nhạy
cảm” để che chắn sai lầm, bưng bít sự thật, bệnh
che cho nhau. Người coi đó là khơng trong sạch

về đạo đức, khơng minh bạch về chính trị và
khơng trung thực về khoa học.
Người viết: “… Một Đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một
Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình,
vạch rõ những cái đó, xét rõ hồn cảnh sinh ra
khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa
chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến
bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (Đặng
Xuân Kỳ, 1997, tr. 301). Người đã nêu cao tấm
gương trung thực, thẳng thắn, thực sự cầu thị.
Trong cải cách ruộng đất, Người gạt nước mắt
nhận lỗi trước nhân dân.
Hồ Chí Minh khơng bằng lịng với thói quen
chậm chạp, tùy tiện, khơng đúng giờ của nhiều
cán bộ, coi đó là thái độ không tôn trọng thời giờ
của những người khác. Tác phong làm việc khoa
học của Hồ Chí Minh đối lập hoàn toàn và xa
lạ với lề lối, cách thức làm việc mang nặng cảm
tính chủ quan, khơng quan tâm đến chất lượng,
hiệu quả công việc; làm việc một cách tự do, tùy
tiện, thiếu điều tra nghiên cứu, thiếu kế hoạch;
thiếu ngăn nắp, luộm thuộm, lề mề, chậm chạp,
không coi trọng thời gian, lãng phí sức người
sức của; làm việc thiếu cụ thể thiết thực; thiếu
tầm nhìn xa trơng rộng… Những biểu hiện như
thế đã được Hồ Chí Minh chỉ ra và yêu cầu cán
bộ lãnh đạo phải kiên quyết khắc phục sửa chữa.
Tháng 11-1945, đến dự lễ tốt nghiệp khóa
V Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Người

thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8
giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều
người chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôi
khuyên anh em làm việc phải cho đúng giờ, vì
thời gian quý báu lắm” (Đặng Xuân Kỳ, 1997,
tr. 115). Người phê bình một vị tướng đến chậm
để mọi người phải đợi, coi 10 phút đến chậm ấy
phải “nhân lên với 500 người đợi chú ở đây”. Khi
làm việc, đi công tác, đi thăm các cơ quan, đơn

vị, hoặc đến nhà anh em cán bộ, Hồ Chí Minh
đều rất điều độ, nói giờ nào đến đúng giờ ấy, nói
làm việc hoặc ở thăm bao lâu thì đúng bấy nhiêu
thời gian, khơng bao giờ lề mề, la cà, không việc
nọ sọ sang việc kia, mà thường rất khẩn trương,
nhanh nhẹn trong mọi công việc và khơng để bất
cứ ai phải đợi mình. Ðó là biểu hiện của tính quý
trọng thời giờ và tính kỷ luật, tính tổ chức, của
tinh thần tự chủ cao. Thậm chí cho đến lúc phải
từ biệt thế giới này, Người không có gì là ân hận,
mà chỉ tiếc là khơng được phục vụ nhân dân lâu
hơn nữa, nhiều hơn nữa.
2.1.2. Phong cách làm việc khách quan của
Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Gặp mỗi vấn đề, ta
phải đặt câu hỏi: Vì sao có vấn đề này? Xử trí
như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ
lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều,
chớ gặp sao làm vậy” (Hồ Chí Minh, 2011, tập
5, tr. 239) và “việc gì cũng phải điều tra rõ ràng,

cẩn thận và phải làm đến nơi đến chốn” (Hồ Chí
Minh, 2011, tập 5, tr. 257). Khi ra các quyết
định bao giờ Người cũng phải có thơng tin đầy
đủ và bảo đảm có phương án thực thi hiệu quả.
Người đã xây dựng thói quen tơn trọng thực tế
khách quan, khơng bóp méo sự thật, làm việc
với tầm nhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báo
khoa học về tình hình có liên quan để tránh bị
động bất ngờ và tránh sa vào cơng việc mang
tính sự vụ thiển cận. Người đã phê phán gay gắt
những cán bộ mắc “bệnh cận thị”. Không thấy
xa trơng rộng. Những vấn đề to tát thì khơng
nghĩ đến mà chỉ chăm chú những việc tỉ mỉ…
Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hại
nhỏ nhen mà khơng thấy sự lợi hại to lớn” (Hồ
Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 257). Giải quyết công
việc phải trên cơ sở dữ liệu khách quan, dựa trên
nền tảng thực tế để lựa chọn ra phương án khả
thi nhất và phương án ấy phải đặt trong tổng thể
chiến lược lâu dài. Người cán bộ khơng được
vì cái lợi nhỏ trước mắt mà làm tổn hại đến lợi
ích to lớn, lâu dài. Tầm nhìn – đó chính là phẩm
chất của người có tư duy khoa học và có cách
làm việc khoa học.
95

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn

2.1.3. Phong cách làm việc trung thực của

Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh yêu cầu, người cán bộ phải
“xét kỹ hoàn cảnh mà xếp đặt cơng việc cho
đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Khơng
nên luộm thuộm, khơng có kế hoạch, gặp việc
nào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc
chính, lộn xộn, khơng có ngăn nắp” (Hồ Chí
Minh, 2011, tập 5, tr. 332). Người yêu cầu cán
bộ phải: chủ trương một, biện pháp mười, quyết
tâm phải hai, ba mươi. Nói quyết tâm phải hai,
ba mươi, đều đó có nghĩa là cán bộ sau khi đã có
kế hoạch cơng tác phải có quyết tâm thực hiện
và phải thực hiện đến nơi đến chốn, không được
đánh trống bỏ dùi. Người đã nhiều lần phê bình
bệnh “hữu danh vơ thực” ở khơng ít cán bộ “làm
việc khơng thiết thực”, “Làm cho có chuyện, làm
lấy rồi”, như vậy là “dối trá với Đảng, có tội với
Đảng” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 298). Để
làm việc bài bản, có kế hoạch, Hồ Chí Minh yêu
cầu cán bộ phải: “thấm nhuần chính sách”, “điều
tra, nghiên cứu, hiểu suốt hoàn cảnh thiết thực của
đơn vị mình, địa phương mình” (Hồ Chí Minh,
2011, tập 7, tr. 249). Đồng thời, khi làm xong
một công việc, dù thành cơng hay thất bại đều
có tổng kết rút kinh nghiệm để tiến hành những
công việc khác tốt hơn. Người khuyên: “cơng
việc gì bất kỳ thành cơng hoặc thất bại, chúng ta
cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ
ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khố
phát triển cơng việc và để giúp cho cán bộ tiến

tới” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr. 312).
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, biểu hiện cụ thể
của trung thực là “nói thì phải làm”. Hồ Chí Minh
thường xun nhắc nhở và yêu cầu mỗi cán bộ,
đảng viên “Tự mình phải chính trước, mới giúp
được người khác chính” (Hồ Chí Minh, 2011, tập
6, tr. 130), nếu khơng thì khơng thể nói ai được.
Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nói ít, bắt
đầu bằng hành động, tốt nhất là miệng nói, tay
làm, làm gương cho người khác bắt chước. Cán
bộ, đảng viên cần phải óc nghĩ, mắt trơng, tai
nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ khơng
phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh…
96

phải thật thà nhúng tay vào việc.
2.2. Giáo dục và rèn luyện phong cách
làm việc khoa học, khách quan và trung thực
cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
Trong tình hình hiện nay, việc đổi mới phong
cách làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên theo
tư tưởng và tấm gương về phong cách làm việc
của Hồ Chí Minh đang là một vấn đề quan trọng
và cấp thiết. Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viên
phải thấy rõ ý nghĩa tầm quan trọng và nội dung
yêu cầu của học tập và làm theo phong cách làm
việc của Hồ Chi Minh. Từ đó, địi hỏi mỗi cán
bộ, đảng viên phải tự mình tu dưỡng, rèn luyện
nâng cao trình độ học vấn, trình độ chun mơn
nghiệp vụ, nắm vững tri thức về con người, biết

trao đổi, làm việc với từng đối tượng con người
cụ thể một cách thật sự dân chủ, văn hóa. Đồng
thời, để hình thành phong cách làm việc khoa
học yêu cầu mỗi cán bộ đảng viên phải không
ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng,
kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân.
Từ thực tiễn của cách mạng khi Đảng ta đã
trở thành đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước, Hồ
Chí Minh thường căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên
dù ở cương vị nào, làm nhiệm vụ gì cũng đều
phải tích cực tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phong
cách tư duy khoa học. Người cán bộ, đảng viên
có phong cách tư duy khoa học sẽ ln phát huy
tính năng động, sáng tạo, tự chủ và hồn thành
mọi nhiệm vụ được tổ chức phân công. Theo tư
tưởng Hồ Chí Minh, việc nâng cao phong cách tư
duy khoa học của cán bộ, đảng viên có nhiều biện
pháp, nhưng đều địi hỏi mỗi người phải khơng
ngừng tự học tập, tự bồi dưỡng, rèn luyện nâng
cao trình độ mọi mặt, đặc biệt là trình độ kiến
thức chun mơn nghiệp vụ và trình độ lý luận
chính trị; phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng
để nắm được bản chất khoa học và cách mạng
của sự vật, hiện tượng, làm cơ sở cho nhận thức
đúng đắn thực tiễn và có biện pháp giải quyết thấu
đáo, đạt hiệu quả cao. Đồng thời, phải rèn luyện
phong cách làm việc có kế hoạch, có chuẩn bị, có
quan điểm thực tiễn; đặc biệt “phải học cách nói
của quần chúng, học cách làm của quần chúng”.

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-98

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ra
trong bối cảnh tình hình quốc tế phức tạp, chứa
đựng nhiều yếu tố khó lường. Cuộc đấu tranh trên
lĩnh vực tư tưởng – lý luận nói chung và đấu tranh
để bảo vệ định hướng, nội dung quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước trong điều kiện nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy
mạnh hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra những
yêu cầu, nhiệm vụ mới. Tình hình mới của đất
nước địi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất
là những người giữ cương vị lãnh đạo, quản lý
phải luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng tốt quan
điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh và của Đảng ta
về phương pháp, tác phong làm việc khoa học,
thiết thực, nhằm đem lại hiệu quả cao trong thực
hiện chức trách, nhiệm vụ.
Là người sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện Đảng
ta, phong cách làm việc Hồ Chí Minh ảnh hưởng
rất lớn, mang tính quyết định đến năng lực, phong
cách, uy tín của Đảng và của đội ngũ cán bộ, đảng
viên trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện
nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc trước đây
cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế hiện nay. Bởi
vậy, sau hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo
của Đảng, “… đất nước ta đã đạt được những

thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” (Hồng Chí
Bảo, 2005, tr. 16). Thành tựu đó chứng tỏ: Đảng
ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và
xã hội; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn
nỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng,
gương mẫu trước quần chúng.
Chúng ta đã xây dựng được phong cách làm
việc khoa học, khách quan và trung thực cho cán
bộ, đảng viên. Phong cách đó được thể hiện qua
việc có ý thức chấp hành đúng các quy định của
pháp luật về sử dụng thời gian làm việc theo quy
định của Bộ luật Lao động và quy chế làm việc
của từng cơ quan, đơn vị cụ thể. Nhiều cán bộ,
công chức, viên chức cần cù làm việc với tinh
thần trách nhiệm cao; các cơ quan hành chính,
đơn vị sự nghiệp nhà nước đã chú ý áp dụng các
biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học,

sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, cơng
chức, viên chức nhằm hồn thành tốt nhiệm vụ
của cơ quan, đơn vị. Tuy nhiên, việc quản lý lao
động trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự
nghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế và yếu
kém, dẫn đến lãng phí thời gian lao động, làm
cho năng suất, chất lượng hiệu quả công tác chưa
cao. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức
nhà nước chưa đề cao trách nhiệm trong thực
hiện nhiệm vụ, công vụ; ý thức kỷ luật lao động
kém; vi phạm các quy định của pháp luật về sử
dụng thời giờ làm việc để làm việc riêng điều

này đã ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng cơng
tác và tác phong, uy tín của cán bộ, cơng chức,
viên chức. Chính vì vậy, học tập tác phong làm
việc khoa học, khách quan và trung thực của Hồ
Chí Minh có ý nghĩa rất quan trọng đối với cán
bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt
là đội ngũ cán bộ làm công tác lãnh đạo, quản
lý các cấp.
Tuy nhiên, một vài cơ quan, đơn vị vẫn
cịn xảy ra tình trạng “việc to thì bỏ, việc nhỏ
thì làm” bởi thiếu chương trình, kế hoạch cụ
thể, chi tiết. Hiện tượng quan liêu, thiếu sâu sát
nghiên cứu, tìm hiểu thực tế trước khi ra quyết
định vẫn diễn ra ở một số nơi. Tình trạng làm
việc tùy tiện, thường xuyên chậm trễ giờ, bớt
xén “tám giờ vàng ngọc”, “sáng cắp ô đi, tối
cắp về” chưa được chấm dứt trong các cơ quan
công quyền. Các biểu hiện “làm láo, báo cáo
hay”, không dám nhận khuyết điểm trước dân,
che chắn khuyết điểm cho nhau, thậm chí “tranh
cơng, đổ lỗi” trong cán bộ, cơng chức vẫn cịn
xuất hiện một số nơi.
Sớm nhận ra những khuyết điểm đó của
một bộ phận cán bộ, đảng viên, ngay từ năm
1947, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm: “Sửa đổi
lối làm việc” để cảnh báo và khắc phục tệ nạn
này. Người cho rằng, khi đã trở thành đảng cầm
quyền, thì Đảng và đội ngũ cán bộ của Đảng phải
thường xuyên sửa đổi lề lối làm việc. Đến nay,
Tác phẩm ấy vẫn giữ nguyên giá trị, làm cơ sở

để Đảng ta ban hành các chỉ thị, nghị quyết về
xây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương
97

Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn

4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và
Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII)
về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Mục đích
của việc làm này là nhằm khắc phục tình trạng:
“Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người
đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương
mẫu; cịn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa
thực sự sâu sát thực tế, cơ sở” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2016, tr. 22), xây dựng đội ngũ cán
bộ, đảng viên “vừa hồng, vừa chuyên”, tổ chức
đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ
chức và đạo đức, ngang tầm với nhiệm vụ cách
mạng trong thời kỳ mới.
Đối với mỗi cán bộ, đảng viên thì cần phải
thấy rằng, sửa đổi lề lối làm việc là một đòi hỏi
khách quan, được làm thường xuyên, liên tục,
suốt đời và là nội dung quan trọng trong thực
hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị. Trên cơ sở chức
trách, nhiệm vụ, căn cứ vào các tiêu chí đã xác
định, mỗi người phải “tự soi”, “tự sửa”, phấn đấu
học tập, làm theo phong cách làm việc Hồ Chí
Minh. Bản đăng ký của mỗi cá nhân cần được

tập thể, trước hết là cấp ủy, chi bộ góp ý, thơng
qua, nếu cần thiết, công khai trước đơn vị để quần
chúng giám sát, giúp đỡ. Cán bộ phải thực sự cầu
thị, lắng nghe ý kiến đóng góp, dư luận của quần
chúng để nhìn lại và suy ngẫm về phong cách làm
việc của mình, thấy điều gì hợp lý thì phát huy,
điều gì chưa phù hợp thì kiên quyết sửa. Hiện
nay, đối tượng chịu sự lãnh đạo, quản lý của cán
bộ có sự phát triển mới, trình độ ngày càng cao,
quan hệ ngày càng rộng; xu thế công khai, dân
chủ, minh bạch được mở rộng; các thành tựu
về khoa học – công nghệ, nhất là về công nghệ
số, công nghệ thông tin, truyền thông được ứng
dụng rộng rãi vào các mặt đời sống xã hội và cá
nhân. Điều đó, địi hỏi cán bộ, nhất là cán bộ chủ
trì phải khơng ngừng nâng cao trình độ học vấn,
chun mơn nghiệp vụ, có phong cách làm việc
khoa học, dân chủ, văn hóa. Người cán bộ phải
biết đấu tranh và chiến thắng chính mình. Đó là
một trong những điểm mấu chốt của phong cách
làm việc Hồ Chí Minh.
98

3. Kết luận
Mỗi tác phong đều phản ánh một khía cạnh
riêng trong việc tiến hành và giải quyết cơng việc
của Người, song nó gắn bó chặt chẽ với nhau
tạo nên một phong cách làm việc khoa học, hiệu
quả. Đó chính là phong cách Hồ Chí Minh. Học
tập và làm theo phong cách làm việc nói chung

và phong cách làm việc khoa học, khách quan,
trung thực của Hồ Chí Minh nói riêng địi hỏi mỗi
đảng viên, cán bộ phải không ngừng tu dưỡng,
rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống
chủ nghĩa cá nhân, làm việc miệt mài, tận tâm,
tận lực với cơng việc. Có như thế, mỗi chúng ta
ngày càng hoàn thiện tác phong làm việc khoa
học và có hiệu quả thiết thực cho cơng tác cách
mạng, góp phần thực hiện thắng lợi việc học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ
Chí Minh./.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Đại
hội đại biểu tồn quốc lần thứ XII. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016). Văn kiện Hội
nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ
tư, khóa XII. Văn phịng Trung ương Đảng.
Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Đặng Xuân Kỳ. (1997). Phương pháp và phong
cách Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Chính trị
Quốc gia – Sự thật.
Hồng Chí Bảo. (2005). Tìm hiểu phương pháp
Hồ Chí Minh. Hà Nội: NXB Lý luận chính trị.
Hồ Chí Minh. (2011). Tồn tập, tập 4. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011). Tồn tập, tập 5. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011). Tồn tập, tập 6. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.

Hồ Chí Minh. (2011). Tồn tập, tập 7. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011). Tồn tập, tập 10. Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.

Received : 18/12/2019 ; Received in revised form : 24/2/2020 ; Accepted : 23/4/2020 AbstractIn the course of revolutionary activities, Ho Chi Minh formed an honest, objective, and scientificworking style. He has ever made a good example of such a working method. Therefore, to meetthe requirements in revolutionary tasks, Ho Chi Minh often attended to building, fostering andtraining the working methods and styles among cadres and party members. The article contributesto providing a better awareness of Ho Chi Minh’s honest, objective and scientific working style, andidentifies its significance to cadres and party members in the process of implementing revolutionarytasks in our country today. Keywords : Ho Chi Minh style, honest working style, scientific working style, objectiveworking style. 92T ạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-981. Mở đầuPhong cách Hồ Chí Minh là một hệ thốngchỉnh thể, gắn bó ngặt nghèo với nhau, phát triểntheo logic đi từ tâm lý đến nói, viết và biểuhiện qua phong cách làm việc, phong cách ứngxử, tác phong hoạt động và sinh hoạt hàng ngày. Trong quátrình hoạt động giải trí cách mạng đã hình thành ở Ngườiphong cách làm việc gồm có nhiều nội dung, trong đó có phong cách làm việc khoa học, kháchquan, trung thực. Phong cách làm việc của HồChí Minh là một bộ phận quan trọng trong tồnbộ di sản vơ giá mà Người để lại cho dân tộc bản địa ta. Phong cách của Người không chỉ là bài học kinh nghiệm, làchuẩn mực cho việc kiến thiết xây dựng phong cách ngườicán bộ, đảng viên mà còn tu dưỡng nhân cáchcho các thế hệ người Nước Ta thời điểm ngày hôm nay và maisau. Vì vậy, nghiên cứu và điều tra, khám phá phong cáchlàm việc nói chung và phong cách làm việc khoahọc, khách quan, trung thực của Hồ Chí Minhnói riêng nhằm mục đích học tập, vận dụng vào đổi mớiphong cách làm việc của người cán bộ, đảng viêntrong tình hình mới ln là yếu tố có ý nghĩaquan trọng và cấp thiết. 2. Nội dung nghiên cứu2. 1. Nét rực rỡ trong phong cách làmviệc khoa học, khách quan và trung thực củaHồ Chí MinhSinh thời, Hồ Chí Minh rất coi trọng phongcách làm việc khoa học, khách quan, trung thực. Người nhu yếu mỗi cán bộ, công chức khi giảiquyết một cơng việc gì đó phải triển khai tìm hiểu, nghiên cứu và điều tra để nắm việc, nắm người, nắm tìnhhình đơn cử. Bác thường xun nhắc nhở cán bộ, cơng chức rằng “ óc phải nghĩ, mắt phải trơng, tai phải nghe, miệng phải nói, chân phải đi, tayphải làm ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 233 – 234 ) để tìm hiểu, nghiên cứu và điều tra thật kỹ, tích lũy vừa đủ, đúng chuẩn và nắm chắc tình hình trong thực tiễn. Phongcách làm việc của Hồ Chí Minh là lề lối, cungcách, phương pháp làm việc của người chỉ huy màđối tượng của sự chỉ huy đó là cấp dưới, là quầnchúng nhân dân. Cách làm việc này bắt nguồn từsự thấm nhuần thâm thúy quan điểm về mối quan hệbiện chứng giữa cá thể lãnh tụ và quần chúngnhân dân của chủ nghĩa Mác – Lênin và từ phẩmchất đạo đức cách mạng trọn đời vì dân của HồChí Minh. 2.1.1. Phong cách làm việc khoa học củaHồ Chí MinhHồ Chí Minh u cầu, làm việc gì cũng phảicó chương trình, kế hoạch : Hồ Chí Minh làmviệc gì cũng có chương trình, kế hoạch, từ lớnđến nhỏ, từ dài hạn, trung hạn đến thời gian ngắn, từtháng, tuần đến ngày, giờ, giờ nào việc nấy. Vìlàm việc có kế hoạch, dù bận trăm cơng nghìnviệc của Đảng và Nhà nước, Người khi nào cũngung dung, tự tại, vẫn có thời hạn học tập, đọcsách, xem văn nghệ, đi xuống địa phương, đithăm danh lam, thắng cảnh. Từ thực tiễn và kinhnghiệm của mình, Người dạy : trong việc đặt kếhoạch không nên tham lam, phải thiết thự, vừasức, từ thấp đến cao, “ chớ làm kế hoạch đẹp mặt, to tát, kể hàng triệu nhưng không thực thi được ” ( Đặng Xuân Kỳ, 1997, tr. 81 ). Một trong những nét điển hình nổi bật trong tác phonglàm việc khoa học của Hồ Chí Minh đó là tácphong đúng giờ, tiết kiệm ngân sách và chi phí thời hạn tối đa vàphân bổ thời hạn để xử lý việc làm mộtcách hài hòa và hợp lý, khoa học, tôn trọng việc làm và tôntrọng con người. Để có tác phong làm việc khoahọc, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : “ Gặp mỗi yếu tố, ta phải đặt câu hỏi : Vì sao có yếu tố này ? Xử trínhư thế này, hiệu quả sẽ ra làm sao ? Phải suy tính kỹlưỡng. Chớ hấp tấp vội vàng, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập4, tr. 239 ) và ” việc gì cũng phải tìm hiểu rõ ràng, cẩn trọng và phải làm đến nơi đến chốn ” ( Hồ ChíMinh, 2011, tập 4, tr. 257 ). Khi ra các quyết địnhphải có thơng tin vừa đủ và bảo vệ có phươngán thực thi hiệu suất cao, khơng chủ quan duy ý chí, phải thiết kế xây dựng thói quen tơn trọng thực tiễn kháchquan, khơng bóp méo thực sự, làm việc với tầmnhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báo khoa học vềtình hình có tương quan để tránh bị động giật mình vàtránh xa vào cơng việc mang tính sự vụ thiển cận. Trong làm việc, Người chỉ rõ cần có tầmnhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báo khoa họcvề tình hình có tương quan để tránh bị động bất93Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân vănngờ, tránh xa vào cơng việc mang tính sự vụthiển cận. Người đã phê phán nóng bức nhữngcán bộ mắc ” bệnh cận thị ” … Hồ Chí Minh rấtkhơng bằng lịng với thói quen lờ đờ, tùytiện, không đúng giờ của nhiều cán bộ, coi đó làthái độ khơng tơn trọng thời hạn của người khác. Người dặn : Trước khi thực thi công vụ, bất kểviệc gì, từ lớn đến nhỏ đều cần xác lập rõ mụcđích, nội dung, chương trình, kế hoạch. Ngườiđịi hỏi toàn bộ cán bộ, công chức trong bộ máyĐảng, Nhà nước, đoàn thể từ Trung ương đến cơsở phải kiến thiết xây dựng kế hoạch làm việc trong từnggiờ, ngày, tuần, tháng, năm một cách đơn cử, thiếtthực, vừa sức ; nội dung một, kế hoạch mười, biệnpháp phải hai mươi. Theo Người, làm việc khoahọc là phải giờ nào việc nấy, chấp hành đúng giờgiấc, biết tôn trọng thời giờ của người khác, tránhlối làm việc tùy tiện, bạ đâu hay đó. Người kịchliệt phê phán lối làm việc “ bàn giấy ” trong “ bốnbức tường ”, “ chỉ tay năm ngón ”. Người khuyếnkhích cán bộ công chức sâu xa cơ sở, kiểm trađôn đốc, liên tục rút kinh nghiệm tay nghề, biết tổngkết thực tiễn. Người căn dặn, tuyệt nhiên khôngmột ai được che đậy sai lầm đáng tiếc, bưng bít thực sự, tránh mặt những vấn đề xấu đi, mà phải có tháiđộ cầu thị, mạnh dạn dám thừa nhận, cơng khainhững lỗi lầm và nhất quyết tìm cách khắc phục, sửa chữa thay thế để tân tiến. Phong cách làm việc khoa học của Hồ ChíMinh cịn được biểu lộ rõ ở chỗ khi làm xongmột việc làm, dù thành công xuất sắc hay thất bại đềucó tổng kết rút kinh nghiệm tay nghề để triển khai nhữngcông việc khác tốt hơn. Người chỉ huy phải biếtsử dụng cỗ máy, những người tập sự, nhữngcơ quan giúp việc một cách khoa học, hiệu quảvà liên tục kiểm tra việc thực thi của cấpdưới và quần chúng … Hồ Chí Minh u cầu, làm việc gì cũngphải tìm hiểu, điều tra và nghiên cứu, tích lũy thông tin, số liệu để nắm chắc thực ra tình hình. Phongcách làm việc của Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗphải nắm vững tình hình thực tiễn. Có nắm vữngthực tiễn thì mới định ra đường lối, chính sáchđúng đắn. Người nói : “ Đảng có hiểu rõ tình hình94thì đặt chủ trương mới đúng ” ( Đặng Xn Kỳ, 1997, tr. 37 ). Về phần mình để nắm tình hình, Người khơng chỉ dựa vào cỗ máy giúp việc, màcòn trực tiếp đi xuống cơ sở. Cách đi của Ngườilà không báo trước, xem xét từ ngoài vào trong, từ sau ra trước, từ nơi ăn, chốn ở rồi mới ra chỗlàm việc hội trường. Người muốn khơng để aicó thể nói dối mình. Người lên án mọi thói cheđậy, bưng bít thực sự, cho đó là gian dối với dân, “ gián trá với Đảng, có tội với Đảng ” ( Đặng XuânKỳ, 1997, tr. 297 ). Người luôn tôn trọng cỗ máy giúp việc, tiếp tục chăm sóc đọc, tâm lý kỹ nhữngbáo cáo của địa phương và của các Bộ, ban, ngànhTrung ương. Nhưng để kiểm tra mức độ chính xáccác thơng tin đó, đồng thời tích lũy thêm nhữngthông tin mới, Người đã dữ thế chủ động về với các địaphương, cơ sở và nhân dân. Người có thẩm mỹ và nghệ thuật “ vi hành ” mà không nơi nào, không một ai có thểnói dối được. Những thơng tin từ các chuyến đithực tế đã giúp Người cùng Trung ương đưa ranhững quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân. Ngườiquý trọng thời hạn và rất nghiêm khắc với việcchấp hành giờ giấc làm việc. Dù nắng mưa, thậmchí bão lụt, đã hẹn, Người tìm mọi cách để đếnđúng giờ. Cán bộ, chiến sỹ đến trễ giờ, Ngườiphê bình thẳng thắn, tráng lệ. Quan niệmcủa Người là “ gian dối với Đảng ” là “ có tội vớiĐảng ”, và “ một Đảng giấu giếm khuyết điểm củamình là một Đảng hỏng ” ( Đặng Xuân Kỳ, 1997, tr. 301 ). Các bộc lộ “ làm cho xong chuyện, làm ít xuýt ra nhiều, để có một báo cáo giải trình thật kêu ” ln là những hành vi lạ lẫm với phong cách HồChí Minh. Cuộc đời hoạt động giải trí cách mạng củaNgười luôn là tấm gương mẫu mực trung thựcvới chính mình, với Đảng, với dân. Trên cươngvị quản trị nước, quản trị Đảng, những gì chưalàm được cho dân, thậm chí còn những sai lầm đáng tiếc gâytổn thất cho cách mạng, Người dũng mãnh, thànhkhẩn nhận lỗi về mình, xin lỗi dân với thái độcầu thị và tìm mọi giải pháp khắc phục hậu quảđể yên lòng dân … Hồ Chí Minh u cầu khi làm việc khơngđược tránh mặt những vấn đề xấu đi, nhạy cảm. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-98 Hồ Chí Minh khơng hề tránh mặt những sự việctiêu cực, thường được đội danh là “ nhạy cảm ”, càng không được cho phép tận dụng hai chữ ‘ nhạycảm ” để che chắn sai lầm đáng tiếc, bưng bít thực sự, bệnhche cho nhau. Người coi đó là khơng trong sạchvề đạo đức, khơng minh bạch về chính trị vàkhơng trung thực về khoa học. Người viết : “ … Một Đảng mà giấu giếmkhuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. MộtĐảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, xét rõ hồn cảnh sinh rakhuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửachữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiếnbộ, mạnh dạn, chắc như đinh, chân chính ” ( ĐặngXuân Kỳ, 1997, tr. 301 ). Người đã nêu cao tấmgương trung thực, thẳng thắn, thực sự cầu thị. Trong cải cách ruộng đất, Người gạt nước mắtnhận lỗi trước nhân dân. Hồ Chí Minh khơng bằng lịng với thói quenchậm chạp, tùy tiện, khơng đúng giờ của nhiềucán bộ, coi đó là thái độ không tôn trọng thời giờcủa những người khác. Tác phong làm việc khoahọc của Hồ Chí Minh trái chiều trọn vẹn và xalạ với lề lối, phương pháp làm việc mang nặng cảmtính chủ quan, khơng chăm sóc đến chất lượng, hiệu suất cao việc làm ; làm việc một cách tự do, tùytiện, thiếu tìm hiểu nghiên cứu và điều tra, thiếu kế hoạch ; thiếu ngăn nắp, luộm thuộm, lề mề, chậm rãi, không coi trọng thời hạn, tiêu tốn lãng phí sức ngườisức của ; làm việc thiếu đơn cử thiết thực ; thiếutầm nhìn xa trơng rộng … Những bộc lộ nhưthế đã được Hồ Chí Minh chỉ ra và nhu yếu cánbộ chỉ huy phải nhất quyết khắc phục thay thế sửa chữa. Tháng 11-1945, đến dự lễ tốt nghiệp khóaV Trường Huấn luyện cán bộ Nước Ta, Ngườithẳng thắn góp ý : “ Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ khởi đầu, giờ đây 8 giờ 10 phút rồi mà nhiềungười chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôikhuyên bạn bè làm việc phải cho đúng giờ, vìthời gian quý báu lắm ” ( Đặng Xuân Kỳ, 1997, tr. 115 ). Người phê bình một vị tướng đến chậmđể mọi người phải đợi, coi 10 phút đến chậm ấyphải “ nhân lên với 500 người đợi chú ở đây ”. Khilàm việc, đi công tác làm việc, đi thăm các cơ quan, đơnvị, hoặc đến nhà đồng đội cán bộ, Hồ Chí Minhđều rất điều độ, nói giờ nào đến đúng giờ ấy, nóilàm việc hoặc ở thăm bao lâu thì đúng bấy nhiêuthời gian, khơng khi nào lề mề, la cà, không việcnọ sọ sang việc kia, mà thường rất khẩn trương, nhanh gọn trong mọi việc làm và khơng để bấtcứ ai phải đợi mình. Ðó là bộc lộ của tính quýtrọng thời giờ và tính kỷ luật, tính tổ chức triển khai, củatinh thần tự chủ cao. Thậm chí cho đến lúc phảitừ biệt quốc tế này, Người không có gì là ân hận, mà chỉ tiếc là khơng được Giao hàng nhân dân lâuhơn nữa, nhiều hơn nữa. 2.1.2. Phong cách làm việc khách quan củaHồ Chí MinhHồ Chí Minh đã chỉ rõ : “ Gặp mỗi yếu tố, taphải đặt câu hỏi : Vì sao có yếu tố này ? Xử trínhư thế này, tác dụng sẽ thế nào ? Phải suy tính kỹlưỡng. Chớ hấp tấp vội vàng, chớ làm bừa, chớ làm liều, chớ gặp sao làm vậy ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập5, tr. 239 ) và “ việc gì cũng phải tìm hiểu rõ ràng, cẩn trọng và phải làm đến nơi đến chốn ” ( Hồ ChíMinh, 2011, tập 5, tr. 257 ). Khi ra các quyếtđịnh khi nào Người cũng phải có thơng tin đầyđủ và bảo vệ có giải pháp thực thi hiệu suất cao. Người đã kiến thiết xây dựng thói quen tơn trọng thực tếkhách quan, khơng bóp méo thực sự, làm việcvới tầm nhìn xa trơng rộng trên cơ sở dự báokhoa học về tình hình có tương quan để tránh bịđộng giật mình và tránh sa vào cơng việc mangtính sự vụ thiển cận. Người đã phê phán gay gắtnhững cán bộ mắc “ bệnh cận thị ”. Không thấyxa trơng rộng. Những yếu tố to tát thì khơngnghĩ đến mà chỉ chú ý những việc tỉ mỉ … Những người như vậy, chỉ trông thấy sự lợi hạinhỏ nhen mà khơng thấy sự lợi hại to lớn ” ( HồChí Minh, 2011, tập 5, tr. 257 ). Giải quyết côngviệc phải trên cơ sở tài liệu khách quan, dựa trênnền tảng trong thực tiễn để lựa chọn ra giải pháp khảthi nhất và giải pháp ấy phải đặt trong tổng thểchiến lược vĩnh viễn. Người cán bộ khơng đượcvì cái lợi nhỏ trước mắt mà làm tổn hại đến lợiích to lớn, lâu dài hơn. Tầm nhìn – đó chính là phẩmchất của người có tư duy khoa học và có cáchlàm việc khoa học. 95C huyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn2. 1.3. Phong cách làm việc trung thực củaHồ Chí MinhHồ Chí Minh nhu yếu, người cán bộ phải “ xét kỹ thực trạng mà xếp đặt cơng việc chođúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Khơngnên luộm thuộm, khơng có kế hoạch, gặp việcnào làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việcchính, lộn xộn, khơng có ngăn nắp ” ( Hồ ChíMinh, 2011, tập 5, tr. 332 ). Người nhu yếu cánbộ phải : chủ trương một, giải pháp mười, quyếttâm phải hai, ba mươi. Nói quyết tâm phải hai, ba mươi, đều đó có nghĩa là cán bộ sau khi đã cókế hoạch cơng tác phải có quyết tâm thực hiệnvà phải triển khai đến nơi đến chốn, không đượcđánh trống bỏ dùi. Người đã nhiều lần phê bìnhbệnh “ hữu danh vơ thực ” ở khơng ít cán bộ “ làmviệc khơng thiết thực ”, “ Làm cho có chuyện, làmlấy rồi ”, như vậy là “ gián trá với Đảng, có tội vớiĐảng ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập 5, tr. 298 ). Đểlàm việc chuyên nghiệp và bài bản, có kế hoạch, Hồ Chí Minh yêucầu cán bộ phải : “ thấm nhuần chủ trương ”, “ điềutra, điều tra và nghiên cứu, hiểu suốt thực trạng thiết thực củađơn vị mình, địa phương mình ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập 7, tr. 249 ). Đồng thời, khi làm xongmột việc làm, dù thành cơng hay thất bại đềucó tổng kết rút kinh nghiệm tay nghề để thực thi nhữngcông việc khác tốt hơn. Người khuyên : “ cơngviệc gì bất kể thành cơng hoặc thất bại, chúng tacần phải điều tra và nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõràng rồi Tóm lại. Kết luận đó sẽ là cái thìa khốphát triển cơng việc và để giúp cho cán bộ tiếntới ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập 10, tr. 312 ). Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bộc lộ cụ thểcủa trung thực là “ nói thì phải làm ”. Hồ Chí Minhthường xun nhắc nhở và nhu yếu mỗi cán bộ, đảng viên “ Tự mình phải chính trước, mới giúpđược người khác chính ” ( Hồ Chí Minh, 2011, tập6, tr. 130 ), nếu khơng thì khơng thể nói ai được. Người nhu yếu cán bộ, đảng viên phải nói ít, bắtđầu bằng hành động, tốt nhất là miệng nói, taylàm, làm gương cho người khác bắt chước. Cánbộ, đảng viên cần phải óc nghĩ, mắt trơng, tainghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ khơngphải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh … 96 phải ngay thật nhúng tay vào việc. 2.2. Giáo dục và rèn luyện phong cáchlàm việc khoa học, khách quan và trung thựccho đội ngũ cán bộ, đảng viênTrong tình hình lúc bấy giờ, việc thay đổi phongcách làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên theotư tưởng và tấm gương về phong cách làm việccủa Hồ Chí Minh đang là một yếu tố quan trọngvà cấp thiết. Trước tiên, mỗi cán bộ, đảng viênphải thấy rõ ý nghĩa tầm quan trọng và nội dungyêu cầu của học tập và làm theo phong cách làmviệc của Hồ Chi Minh. Từ đó, địi hỏi mỗi cánbộ, đảng viên phải tự mình tu dưỡng, rèn luyệnnâng cao trình độ học vấn, trình độ chun mơnnghiệp vụ, nắm vững tri thức về con người, biếttrao đổi, làm việc với từng đối tượng người tiêu dùng con ngườicụ thể một cách thật sự dân chủ, văn hóa truyền thống. Đồngthời, để hình thành phong cách làm việc khoahọc nhu yếu mỗi cán bộ đảng viên phải khôngngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhất quyết chống chủ nghĩa cá thể. Từ thực tiễn của cách mạng khi Đảng ta đãtrở thành đảng cầm quyền chỉ huy quốc gia, HồChí Minh thường căn dặn mỗi cán bộ, đảng viêndù ở cương vị nào, làm trách nhiệm gì cũng đềuphải tích cực tu dưỡng, rèn luyện nâng cao phongcách tư duy khoa học. Người cán bộ, đảng viêncó phong cách tư duy khoa học sẽ ln phát huytính năng động, phát minh sáng tạo, tự chủ và hồn thànhmọi trách nhiệm được tổ chức triển khai phân công. Theo tưtưởng Hồ Chí Minh, việc nâng cao phong cách tưduy khoa học của cán bộ, đảng viên có nhiều biệnpháp, nhưng đều địi hỏi mỗi người phải khơngngừng tự học tập, tự tu dưỡng, rèn luyện nângcao trình độ mọi mặt, đặc biệt quan trọng là trình độ kiếnthức chun mơn nhiệm vụ và trình độ lý luậnchính trị ; phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạngđể nắm được thực chất khoa học và cách mạngcủa sự vật, hiện tượng kỳ lạ, làm cơ sở cho nhận thứcđúng đắn thực tiễn và có giải pháp xử lý thấuđáo, đạt hiệu suất cao cao. Đồng thời, phải rèn luyệnphong cách làm việc có kế hoạch, có sẵn sàng chuẩn bị, cóquan điểm thực tiễn ; đặc biệt quan trọng “ phải học cách nóicủa quần chúng, học cách làm của quần chúng ”. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 9, Số 6, 2020, 92-98 Hiện nay, sự nghiệp kiến thiết xây dựng và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ratrong toàn cảnh tình hình quốc tế phức tạp, chứađựng nhiều yếu tố khó lường. Cuộc đấu tranh trênlĩnh vực tư tưởng – lý luận nói chung và đấu tranhđể bảo vệ xu thế, nội dung quan điểm cơ bảncủa Đảng và Nhà nước trong điều kiện kèm theo nền kinhtế thị trường khuynh hướng xã hội chủ nghĩa, đẩymạnh hội nhập quốc tế đã và đang đặt ra nhữngyêu cầu, trách nhiệm mới. Tình hình mới của đấtnước địi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhấtlà những người giữ cương vị chỉ huy, quản lýphải luôn không cho thâm thúy và vận dụng tốt quanđiểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh và của Đảng tavề chiêu thức, tác phong làm việc khoa học, thiết thực, nhằm mục đích đem lại hiệu suất cao cao trong thựchiện chức trách, trách nhiệm. Là người sáng lập, chỉ huy, rèn luyện Đảngta, phong cách làm việc Hồ Chí Minh ảnh hưởngrất lớn, mang tính quyết định hành động đến năng lượng, phongcách, uy tín của Đảng và của đội ngũ cán bộ, đảngviên trong chỉ huy, chỉ huy, tổ chức triển khai thực hiệnnhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc bản địa trước đâycũng như trong sự nghiệp thay đổi, thiết kế xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế lúc bấy giờ. Bởivậy, sau hơn 30 năm thay đổi dưới sự lãnh đạocủa Đảng, “ … quốc gia ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử vẻ vang ” ( Hồng ChíBảo, 2005, tr. 16 ). Thành tựu đó chứng tỏ : Đảngta xứng danh là lực lượng chỉ huy Nhà nước vàxã hội ; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luônnỗ lực học tập, rèn luyện, phấn đấu không ngừng, gương mẫu trước quần chúng. Chúng ta đã kiến thiết xây dựng được phong cách làmviệc khoa học, khách quan và trung thực cho cánbộ, đảng viên. Phong cách đó được thể hiện quaviệc có ý thức chấp hành đúng các pháp luật củapháp luật về sử dụng thời hạn làm việc theo quyđịnh của Bộ luật Lao động và quy định làm việccủa từng cơ quan, đơn vị chức năng đơn cử. Nhiều cán bộ, công chức, viên chức cần mẫn làm việc với tinhthần nghĩa vụ và trách nhiệm cao ; các cơ quan hành chính, đơn vị chức năng sự nghiệp nhà nước đã chú ý quan tâm vận dụng cácbiện pháp tổ chức triển khai lao động một cách khoa học, sử dụng hài hòa và hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, cơngchức, viên chức nhằm mục đích hồn thành tốt nhiệm vụcủa cơ quan, đơn vị chức năng. Tuy nhiên, việc quản trị laođộng trong các cơ quan hành chính, đơn vị chức năng sựnghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế và yếukém, dẫn đến tiêu tốn lãng phí thời hạn lao động, làmcho hiệu suất, chất lượng hiệu suất cao công tác làm việc chưacao. Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chứcnhà nước chưa tôn vinh nghĩa vụ và trách nhiệm trong thựchiện trách nhiệm, công vụ ; ý thức kỷ luật lao độngkém ; vi phạm các pháp luật của pháp lý về sửdụng thời giờ làm việc để làm việc riêng điềunày đã tác động ảnh hưởng đến hiệu suất cao, chất lượng cơngtác và tác phong, uy tín của cán bộ, cơng chức, viên chức. Chính thế cho nên, học tập tác phong làmviệc khoa học, khách quan và trung thực của HồChí Minh có ý nghĩa rất quan trọng so với cánbộ, đảng viên trong quá trình lúc bấy giờ, đặc biệtlà đội ngũ cán bộ làm công tác làm việc chỉ huy, quảnlý các cấp. Tuy nhiên, một vài cơ quan, đơn vị chức năng vẫncịn xảy ra thực trạng “ việc to thì bỏ, việc nhỏthì làm ” bởi thiếu chương trình, kế hoạch cụthể, chi tiết cụ thể. Hiện tượng quan liêu, thiếu sâu sátnghiên cứu, tìm hiểu và khám phá trong thực tiễn trước khi ra quyếtđịnh vẫn diễn ra ở 1 số ít nơi. Tình trạng làmviệc tùy tiện, tiếp tục chậm trễ giờ, bớtxén “ tám giờ vàng ngọc ”, “ sáng cắp ô đi, tốicắp về ” chưa được chấm hết trong các cơ quancông quyền. Các bộc lộ “ làm láo, báo cáohay ”, không dám nhận khuyết điểm trước dân, che chắn khuyết điểm cho nhau, thậm chí còn “ tranhcơng, đổ lỗi ” trong cán bộ, cơng chức vẫn cịnxuất hiện một số ít nơi. Sớm nhận ra những khuyết điểm đó củamột bộ phận cán bộ, đảng viên, ngay từ năm1947, Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm : “ Sửa đổilối làm việc ” để cảnh báo nhắc nhở và khắc phục tệ nạnnày. Người cho rằng, khi đã trở thành đảng cầmquyền, thì Đảng và đội ngũ cán bộ của Đảng phảithường xuyên sửa đổi lề lối làm việc. Đến nay, Tác phẩm ấy vẫn giữ nguyên giá trị, làm cơ sởđể Đảng ta phát hành các thông tư, nghị quyết vềxây dựng Đảng, nhất là Nghị quyết Trung ương97Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn4 ( khóa XII ) về kiến thiết xây dựng, chỉnh đốn Đảng vàChỉ thị 05 – CT / TW của Bộ Chính trị ( khóa XII ) về “ Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ”. Mục đíchcủa việc làm này là nhằm mục đích khắc phục thực trạng : “ Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có ngườiđứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gươngmẫu ; cịn biểu lộ quan liêu, cửa quyền, chưathực sự nâng cao thực tiễn, cơ sở ” ( Đảng Cộng sảnViệt Nam, năm nay, tr. 22 ), thiết kế xây dựng đội ngũ cánbộ, đảng viên “ vừa hồng, vừa chuyên ”, tổ chứcđảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổchức và đạo đức, ngang tầm với trách nhiệm cáchmạng trong thời kỳ mới. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên thì cần phảithấy rằng, sửa đổi lề lối làm việc là một đòi hỏikhách quan, được làm tiếp tục, liên tục, suốt đời và là nội dung quan trọng trong thựchiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị. Trên cơ sở chứctrách, trách nhiệm, địa thế căn cứ vào các tiêu chuẩn đã xácđịnh, mỗi người phải “ tự soi ”, “ tự sửa ”, phấn đấuhọc tập, làm theo phong cách làm việc Hồ ChíMinh. Bản ĐK của mỗi cá thể cần đượctập thể, trước hết là cấp ủy, chi bộ góp ý, thơngqua, nếu thiết yếu, công khai minh bạch trước đơn vị chức năng để quầnchúng giám sát, trợ giúp. Cán bộ phải thực sự cầuthị, lắng nghe quan điểm góp phần, dư luận của quầnchúng để nhìn lại và suy ngẫm về phong cách làmviệc của mình, thấy điều gì hài hòa và hợp lý thì phát huy, điều gì chưa tương thích thì nhất quyết sửa. Hiệnnay, đối tượng người tiêu dùng chịu sự chỉ huy, quản trị của cánbộ có sự tăng trưởng mới, trình độ ngày càng cao, quan hệ ngày càng rộng ; xu thế công khai minh bạch, dânchủ, minh bạch được lan rộng ra ; các thành tựuvề khoa học – công nghệ, nhất là về công nghệsố, công nghệ thông tin, truyền thông online được ứngdụng thoáng rộng vào các mặt đời sống xã hội và cánhân. Điều đó, địi hỏi cán bộ, nhất là cán bộ chủtrì phải khơng ngừng nâng cao trình độ học vấn, chun mơn nhiệm vụ, có phong cách làm việckhoa học, dân chủ, văn hóa truyền thống. Người cán bộ phảibiết đấu tranh và thắng lợi chính mình. Đó làmột trong những điểm mấu chốt của phong cáchlàm việc Hồ Chí Minh. 983. Kết luậnMỗi tác phong đều phản ánh một khía cạnhriêng trong việc triển khai và xử lý cơng việccủa Người, tuy nhiên nó gắn bó ngặt nghèo với nhautạo nên một phong cách làm việc khoa học, hiệuquả. Đó chính là phong cách Hồ Chí Minh. Họctập và làm theo phong cách làm việc nói chungvà phong cách làm việc khoa học, khách quan, trung thực của Hồ Chí Minh nói riêng địi hỏi mỗiđảng viên, cán bộ phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nhất quyết chốngchủ nghĩa cá thể, làm việc miệt mài, tận tâm, tận lực với cơng việc. Có như thế, mỗi chúng tangày càng triển khai xong tác phong làm việc khoahọc và có hiệu suất cao thiết thực cho cơng tác cáchmạng, góp thêm phần triển khai thắng lợi việc học tậpvà làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách HồChí Minh. /. Tài liệu tham khảoĐảng Cộng sản Việt Nam. ( năm nay ). Văn kiện Đạihội đại biểu tồn quốc lần thứ XII. TP.HN : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Đảng Cộng sản Việt Nam. ( năm nay ). Văn kiện Hộinghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứtư, khóa XII. Văn phịng Trung ương Đảng. Thành Phố Hà Nội : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Đặng Xuân Kỳ. ( 1997 ). Phương pháp và phongcách Hồ Chí Minh. Thành Phố Hà Nội : NXB Chính trịQuốc gia – Sự thật. Hồng Chí Bảo. ( 2005 ). Tìm hiểu phương phápHồ Chí Minh. TP.HN : NXB Lý luận chính trị. Hồ Chí Minh. ( 2011 ). Tồn tập, tập 4. Thành Phố Hà Nội : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Hồ Chí Minh. ( 2011 ). Tồn tập, tập 5. TP. Hà Nội : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Hồ Chí Minh. ( 2011 ). Tồn tập, tập 6. TP.HN : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Hồ Chí Minh. ( 2011 ). Tồn tập, tập 7. Thành Phố Hà Nội : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật. Hồ Chí Minh. ( 2011 ). Tồn tập, tập 10. TP.HN : NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật .

Related Posts

About The Author